NỖI BUỒN THÁNG TƯ


HƯƠNG THUỶ                     

Tôi không có tham vọng viết một tập hồi ký. Tôi cũng không phải là một nhà nghiên cứu văn học để có thể nói nhiều hơn về nhà thơ này, nhà văn nọ như một số người đã đề nghị. Xuất phát từ lời của một anh bạn cùng lớp, tôi chỉ muốn hoài niệm về cái lớp học nhỏ bé thân yêu của mình, về những khuôn mặt bạn bè trong một giai đoạn đầy biến động của đất nước, của mỗi gia đình, mỗi con người mà chúng tôi là một chứng nhân. Tôi viết thật ngẫu hứng, thật tình cờ, không dàn dựng nhưng càng lúc dĩ vãng càng hiện ra, sống động. Thôi thì NHỚ GÌ GHI NẤY.

Sau 1975, chúng tôi không chỉ hoang mang về chính trị mà còn hoang mang về tương lai, một tương lai hình dung ra là “đen hơn mõm chó”…

Ở miền Nam trước đây, người đàn ông trong gia đình là trụ cột. Trong nghề nghiệp của người mẹ, hầu hết đều ghi hai chữ “nội trợ”. Chúng tôi sống không giàu nhưng cũng không nghèo, nói chung là đầy đủ và cũng không có tham vọng làm giàu. Chúng tôi trọng cái danh nhiều hơn. Giàu quá đôi khi còn bị gọi là trọc phú! Cha đi làm, mẹ nội trợ, các con cắp sách đến trường. Và đó là hạnh phúc.

Sau 75, chúng tôi tụt xuống một cái hố sâu thăm thẳm. Ba Tường Vy đi cải tạo, để lại sau lưng vợ và đàn con, ba Kim Chi làm Chủ sự ở Tòa Hành Chánh Đà Nẵng không được lưu dung, những đứa con đang tuổi lớn; ba tôi vừa mới nghỉ hưu mấy tháng chưa nhận được được tiền, mất luôn chút vốn dành dụm trong ngân hàng; anh trai, anh rể tôi cũng “nhập trại”… Nhưng cũng phải trở lại trường lấy cho được cái bằng Đại học chứ. Trồng cây đã sắp đến ngày hái quả cơ mà!

Ngày về trường ai cũng nhiều lo lắng và trăn trở. Tưởng Vy thuê cho tôi và Kim Chi một căn phòng nhỏ ở đường Trương Định, sát nhà bạn. Bên trong là căn phòng nhỏ của chị M cùng lớp, cha cũng đi tù ở Bình Điền. Chỗ ở tạm ổn còn cái ăn hầu như ai cũng tự bươn chãi. Tiêu chuẩn của sinh viên là 16 kg gạo một tháng. Tôi và Kim Chi bán đi một phần lấy tiền chi dụng. Hai đứa ăn chung phần còn lại. Chúng tôi thực sự bước xuống cuộc đời!

Đại học Huế là trung tâm tri thức của miền Trung nên quy tụ nhiều sinh viên của Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng… về học. Nhất là phái Nam. Chúng tôi không biết họ sinh hoạt như thế nào khi các Ký túc xá trở thành Doanh Trại Quân đội nhân dân và các quán cơm xã hội, quán cơm Sinh viên đều bị đóng cửa.Nhưng rõ ràng đã không còn vẻ “Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa” của các chàng trai xưa.

Chiến dịch đánh tư sản mại bản, chính sách cải tạo Công Thương Nghiệp tiến hành. Gia đình nào cũng xơ xác. Đà nẵng chợ Cồn còn có chút sinh khí, Huế nghèo nàn lộ ra mặt. Những con đường âm u. Đúng là “Tôi bước đi không thấy phố, thấy nhà. Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ” (Trần Dần)

Phái nữ chúng tôi phần đông ăn ít, không đói lắm nhưng thiếu chất. Cụ thể là chất béo và chất ngọt. Một phần cơm, lèo tèo mấy cọng rau muống hoặc su su xào, một tô canh toàn quốc là xong. Và chúng tôi còn phải đi lao động. Trồng bạch đàn trước trường Đồng Khánh, trồng thông trên núi Thiên Thai, lao động thủy lợi ở Thanh Lương, Hương Trà. Ở lại một đêm, bới đồ ăn theo nhưng có gì mà bới. Chúng tôi ở trong nhà dân. Nhà không có đàn ông. Chỉ có một bà già, cô con dâu và hai đứa cháu nhỏ. Trên bàn thờ có tấm ảnh của một người lính miền Nam chắc đã tử trận. Bà cụ chủ nhà thật tốt, cho chúng tôi nằm ngủ trên bộ ván, chung quanh là những nong ớt chin đỏ chồng lên nhau. Mệt quá chúng tôi thiếp đi trong mùi ớt cay nồng nàn.

Lội dưới bùn sình, chuyền tay nhau những tảng đất lớn, chúng tôi sợ nhất là những con đỉa nhỏ bơi lội tung tăng. Tưởng Vy nói tôi lấy hai cái bọc nilon buộc tay lại. Tôi thấy có lý, làm theo. Và đêm ấy, khi họp rút kinh nghiệm, Tổ trưởng Nguyễn Văn Hùng lớp VH 4 giũa một trận te tua. Anh dẫn lời HCM: “Người lao động trí óc cũng cần lao động chân tay”. Tôi nghe mà thương cho những bàn tay tài hoa của các bạn ngành Y, ngành Mỹ thuật đang sục trong bùn. Anh Hùng sau này ra trường đổi về tận Sóc Trăng, viết những tản văn sâu sắc ký tên là Tiểu Hùng Tinh. Mong có ngày gặp anh ôn lại kỷ niệm vui buồn của “cái thời lãng mạn” ấy.

Buổi chiều từ giã, bà cụ chủ nhà lôi trong túi áo gài kim băng ra cho tôi và Kim Chi hai đồng bạc – Lúc bấy giờ Huế dùng tiền Bắc, từ Đà Nẵng trở vào dùng tiền “Giải phóng”. Mỗi lần vô ra chúng tôi phải đổi tiền chi dụng-. Thương cụ quá, chúng tôi không nhận dù đó là một số tiền có thể “Cứu đói” lúc này.

. Xe GMC đổ sinh viên trước trường, ba chúng tôi lê những bước chân mệt mỏi về nhà. Và cảm động thay khi thấy La Đức Phát-học Pháp văn năm hai- con hiệu chụp ảnh La cảnh Lưu bên THĐ đã chờ sẵn. Hắn đem cho chúng tôi hộp Paté còn sót lại trong kho dự trữ của nhà. Chưa bao giờ chúng tôi được ăn ngon như thế từ sau tháng Tư. Còn đâu La vache qui rit của Pháp, fruit cake của Mỹ; còn đâu gà quay ở Cercle; còn đâu cơm 76 Lê Lợi vang bóng một thời… với những ông anh hào hoa. Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu!

Tường Vy, một đứa bạn đẹp cả người lẫn nết. Hắn nấu cơm, rảnh tay lại lấy chổi quét nhà nên Kim Chi và tôi đặt biệt danh cho hắn là “Vy Quét”. May mắn cho tôi và Kim Chi khi ở cạnh hắn. Vừa đi học cùng nhau, vừa lâu lâu chạy qua bếp ngồi trên những cái ghế sắt nhỏ “Vy, cho Chị chút mắm cà; Vy, còn cơm nguội không?”.

Trước đó Tường Vy có nhiều người theo đuổi, ngay cả trong lớp. Có anh kín đáo, có anh công khai. Tôi và Kim Chi cũng đựơc đi ăn theo mấy lần. Sinh viên mà, chỉ ăn chè thôi. Tôi cũng hay có mấy gói kẹo của ông anh TĐT Mãnh hổ và chúng tôi cùng “chia ngọt xẻ bùi”. Đến bây giờ chúng tôi vẫn thân nhau, vẫn ngủ cùng nhau những lần gặp mặt và vẫn tự nhiên “Tau muốn ăn món ni, tau muốn mua cái nớ”.

Lúc đó cũng có một anh lớp VV4 sinh hoạt cùng tổ chính trị với chúng tôi tán Vy. Mỗi lần ra quê Quảng Trị xin nhà tiếp tế, anh cũng cho chúng tôi mấy củ sắn, củ khoai, ly chè trên công viên. Đúng là “bát cơm Phiếu Mẫu”. Anh viết thư cho Tường Vy như thơ văn xuôi. Gì mà có câu “Phải không, thưa V?”. Từ đó mỗi lần gặp anh, tôi và Chi thường vòng tay, cúi đầu. Tường Vy cười cười còn ảnh thì không hiểu chi hết!

Tôi cũng không quên chuyện vui sau. Mỗi lần nghĩ lại vừa buồn cười, vừa ân hận. Những lần vô, ra Đà Nẵng, chúng tôi quen A Quý và A Phát, bạn của Huê, bạn Kim Chi. Cả hai là người Hoa, sản xuất xì dầu, hàng tuần lái xe chở hàng ra bỏ mối bên chợ Đông Ba. Trong khi chờ thu tiền, thường ghé chỗ chúng tôi nói chuyện.

Nhìn những chai nước tương bóng loáng, màu mè hấp dẫn, chúng tôi cảm thấy thèm thuồng. Mùa Đông ở Huế, ăn cơm nóng chan nước tương thì tuyệt. Nhưng cả hai tuyệt đối không bao giờ tặng, dù chỉ là một chai nhỏ. Thỉnh thoảng họ cho chúng tôi gói bánh, gói kẹo nhưng xì dầu thì tuyệt nhiên không. Mà cả xe hàng chứ ít đâu. Không dám mở miệng xin nhưng buổi tối nằm ngủ chúng tôi xếp hai anh Hoa này vào loại “kẹo kéo”.

Một buổi cuối tuần, cả hai ra Huế giao hàng, thu tiền và lại ghé chúng tôi. A Quý đưa mười đồng, tờ giấy bạc Bắc màu đỏ có in hình HCM và là tờ giấy bạc giá trị nhất lúc bấy giờ. Hắn nhờ qua chợ mua hai xấp vải may đồ bộ cho em gái, lựa màu mè cho thiệt đẹp. Chúng tôi vừa đi vừa càu nhàu. Không cho người ta xì dầu mà còn nhờ vã!. Chúng tôi mua hai xấp có in bướm hồng và bướm tím hết sáu đồng, vô chợ ăn hai ly chè một đồng cho bỏ ghét rồi về nhà giao lại cho hai ổng.

Và… ngạc nhiên chưa! Không có cô em gái nào cả mà đó là hai bộ đồ dành cho chúng tôi! Ai bảo người Hoa không tế nhị. A Phát cũng nói rõ loại xì dầu này chế biến không hợp vệ sinh lắm, cho nên không tặng chúng tôi. Ôi chao, A Phát và A Quý! Không biết sau vụ Nạn Kiều 1979, các anh đã trôi giạt về đâu nhưng chúng tôi nhớ hoài hành động đẹp của hai anh.

Tóm lại là chúng tôi thiếu ăn.

Mùa Đông năm đó cũng lạnh khủng khiếp. Miền Trung mùa Đông nào chả lạnh nhưng năm đó buốt nhức xương. Phải gọi là rét. Rét từ trong xương rét ra. Mấy bà già Huế nói “lạnh vô hậu kế đợi”. Buổi sáng đi học ngang Morin, gió sông Hương thổi lên lồng lộng, chúng tôi lạnh tái tê. Ba đứa mua ba hào sắn luộc của Mụ Ký bán bên hè Văn khoa rồi vừa đi vừa gặm.Tuổi trẻ vượt qua được những gian khổ, đói rét. Ba đứa vẫn tung tăng áo dài hoa lá; đi lao động vẫn quần patte áo pull. Thật ra tiền đâu mà sắm quần đen áo ngắn. Gần đây, khi thấy hình ba đứa trên FB, anh bạn Sử Địa năm 4 ngày xưa vẫn nhắn tin “Ba cô nổi tiếng thuở nào, bây giờ vẫn là ba cô Hoàng tộc”

Năm đó, không phải chỉ riêng Huế lạnh mà cả nước đều lạnh. Nhưng có một sự kiện nổi tiếng khó quên. Đó là nạn… ghẻ ! Nhân dân gọi tên là “Ghẻ Bộ đội”. Đúng là có lý và có nguyên nhân.

Sau chiến thắng, các binh đoàn bộ đội từ núi cao rừng rậm trở về. Ở trong rừng lâu ngày không được tắm giặt, mất vệ sinh, họ đã đem một cơn lốc ghẻ về phố thị miền Nam.

Nhà nhà, người người nháo nhào lên vì ghẻ ! Cha gãi, mẹ gãi, con gãi… Cả nhà cùng gãi!

Chúng tôi may mắn không bị nhưng bạn bè chúng tôi thì nhan nhản. Kể cả những cô nàng mặt hoa da phấn, kể cả những anh chàng Phan An, Tống Ngọc. Ngồi học trên giảng đường thấy tay họ bôi đầy chất thuốc màu xanh loang lổ.

Chúng tôi có một người bạn nam cùng khóa, học Lý Hóa, cũng ở Đà Nẵng, con nhà khá giả đường Gia Long, sau này đổi tên thành Lý Tự Trọng, thỉnh thoảng ghé phòng trọ chơi.

Một lần nọ, bạn ghé. Tôi kêu lên “A, Anh Lân bị ghẻ tề!” Có lẽ quá nhiều người bị, nên anh ta cũng tự nhiên thú nhận “Ừ, nhiều người bị lắm”. Nói xong, anh cọ cọ cái tay. Thông thường, bị ghẻ thì hay ngứa. Mà càng gãi thì càng bị kích thích. Anh bắt đầu rờ rẫm cái tay, cố nén, nhưng nén cũng không được. Anh vặn vẹo, rồi cọ sát hai bàn tay vào nhau. Rồi đỏ mặt lên và bắt đầu gãi một cách say mê. Từ đó chúng tôi đặt cho anh biệt danh là Lân Ta lư – tên một loại đàn vùng cao – . Biệt danh thông dụng đến mức anh ta chấp nhận cái tên ấy và chúng tôi tự nhiên gọi anh Ta Lư.

Sau này anh cũng thành thật cho chúng tôi biết má anh đã mua thuốc xịt muỗi của Mỹ cho anh mà bôi cũng không hết. Cuối cùng có người bày lấy thuốc súng bôi lên. May là hết . Thật khủng khiếp.

Cũng chính anh này, hôm sinh nhật Kim Chi năm sau ở Đà Nẵng đã tặng cho nàng cuốn tiểu thuyết Cách mạng “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi. Thật quá chơn chất! Sau này hình như anh đổi về Quảng Ngãi.

Chốt lại, chúng tôi bắt đầu bước vào học chuyên môn trong cái đói, cái rét và… nạn ghẻ! Có hề chi. Bác Hồ đã bị ghẻ và cũng đã làm thơ: “Đầy mình đỏ tiá như hoa gấm. Sột soạt luôn tay tựa gãy đàn” cơ mà. Ha ha !

Hương Thủy


Nguồn: https://huynhthuckhangluongvancan.wordpress.com/2026/06/10/noi-buon-thang-tu-phan-nam/

Xin bấm vào ba gạch phía trên cùng để xem các bài cũ hơn.

Comments

Popular posts from this blog

NHỮNG CA TỪ ĐƯỢC CHẮP CÁNH

Gia Định báo: Phương tiện truyền bá và phổ biến chữ Quốc ngữ

NIỀM NHỚ VÀ NHỚ TAM KỲ